Showing posts with label Mui Ne Vietnam. Show all posts
Showing posts with label Mui Ne Vietnam. Show all posts

Thursday, October 13, 2011

Lựa chọn một kỹ xảo - Halong bay Vietnam


Bước thứ ba và bước cuối cùng là lựa chọn và tinh lọc kỹ xảo. Lựa chọn kỹ xảo được tiến hành một cách đặc thù và không chính xác trước hai bước đầu tiên. Nhiều nhà diễn giải cố gắng xác định khán giả và nội dung thường thường cố gắng làm cho chúng phù hợp với kỹ xảo được ưa thích hơn. Hầu hết các nhà diễn giải cố gắng lập kế hoạch để xây dựng một kỹ xảo với chi phí xác định khán giả và phát triển nội dung. Ðiều này có giá trị tương đương với xây dựng một chương trình quảng cáo trên vô tuyến không có ý định đề cập tới cần phải làm cho ai, hay thiết kế nơi ở mà không tham quan nơi định xây dựng. Vì lý do này mà bản mô tả các kỹ thuật cần treo lại tới khi đề cập tới điểm này trong chương.

VÍ DỤ VỀ CHỦ ÐỀ, KHÁI NIỆM VÀ THÔNG ĐIỆP
Ch đề din gii
Khái nim din gii
Thông đip din gii
Tập hợp rừng mưa,hỗn tạp nhiệt đới
Các rừng tập chịu tác động tự nhiên
Rừng rậm là cá hệ thống thiên nhiên năng động vì chúng có thể hợp nhất thay đổi vào những hệ thống này
Rừng rậm là cá hệ thống thiên nhiên năng động vì chúng có thể hợp nhất thay đổi vào những hệ thống này
Rùng là các hệ thống thiên nhiên phức hợp
Rừng thay đổi tính đa dạng, cấu trúc và sự phức hợp để ứng phó với hỏa hoạn

Có vô số cách thức diễn giải, vậy nên tựu chung lại tất cả các cách này đều cố gắng sử dụng các kỹ thuật lời hay không lời, hoặc kết hợp cả hai. Các kỹ thuật dùng lời nói đều xoay quanh sự giao tiếp mặt đối mặt và bao gồm: lời bình, thảo luận, giải trí dựa vào biểu diễn, các hoạt động sáng tạo, các công viên Halong bay Vietnam có chủ đề (cảnh quan vui chơi giải trí sống động), và các chương trình phát thanh và vô tuyến truyền hình. Các kỹ thuật không lời bao gồm: các ấn phẩm, các biển tự hướng dẫn, trình bày bằng phương tiện nghe nhìn, các trung tâm du khách, các viện bảo tàng, tranh vẽ, điêu khắc, và địa điểm, thiết kế và xây dựng các toà nhà.
Các kỹ thuật đều có những điểm mạnh và điểm yếu. Diễn giải bằng lời nói chung được coi là mạnh hơn loại hình không lời rất nhiều vì người diễn giải có thể ứng phó với những điều kiện thay đổi, đặc biệt những nhu cầu khác nhau của cá nhân khách hàng. Diễn giải bằng lời cũng có hiệu quả hơn khi diễn đạt những điều phức tạp và những ý kiến trừu tượng và nói chung được hầu hết các khán giả coi là được quan tâm hơn và có giá trị lớn hơn. Hầu hết diễn giải do công tác điều hành du lịch sinh thái tiến hành đều bằng lời.
Lựa chọn loại hình kỹ thuật lời khó hơn và cần phản ánh đầy đủ nội dung, các nhu cầu của khán giả, các cơ hội và trở ngại của nơi tham quan, và các cá nhân có trách nhiệm đối với việc diễn giải. Chi tiết toàn bộ các kỹ thuật diễn giải, tham khảo Ham (1992). Bốn kỹ thuật đã được đề cao về tính thích hợp và sử dụng trong du lịch sinh thái Halong bay Vietnam: các cuộc nói chuyện và thảo luận có tổ chức, các tua và đi bộ có hướng dẫn, các tác phẩm có tính chất sân khấu và địa điểm và thiết kế của toà nhà.

Xác định nội dung và cấu trúc - Halong bay Vietnam


Bước thứ hai là để xác định và đặt cơ cấu nội dung của công việc diễn giải. Nội dung của sự diễn giả tập trung vào du lịch sinh thái đặc biệt cần phản ánh sự hỗn hợp của bốn thành phần sau:
ã        khu vực thiên nhiên đang được tham quan;
ã        các đặc tính của khán giả đích;
ã        những kỳ vọng của cán bộ quản lý khu vực thiên nhiên; và
ã        những niềm say mê của cán bộ diễn giải (Hall và McArthurr, trên báo chí).
Khu vực thiên nhiên Halong bay Vietnam tạo nguồn cơ bản cho nội dung diễn giải, nhưng đặc biệt cũng có những hạn chế để biết có thể tiếp cận bao nhiêu trong thời gian hiện có và có thể trình bày với khán giả trong chừng mực nào do sự say mê và khả năng của họ khác nhau. Nếu khách hàng không thích thú, công việc diễn giả sẽ thất bại không thu hút đuợc sự chú ý của họ hay tạo được sự hưởng thụ. Ngoài ra, có thể có nhu cầu hợp nhất thông tin và các triển vọng từ những cán bộ quản lý khu vực thiên nhiên thích hợp. Những cán bộ quản lý này có thể hy vọng nhiều ở một cuộc thảo luận về các vấn đề mà họ phải đối mặt trong việc quản lý khu vực. Hợp nhất những kỳ vọng này lại giúp cho việc khẳng định là những nhà quản lý này nhìn thấy được công lao trong công tác điều hành, mà đó có thể tạo ra được một mối liên hệ thuận lợi và có tính chất xây dựng hơn.
NHỮNG VÍ DỤ VỀ CÁC đặc tính phân tích tâm lý
Ðặc tính
Các ví dụ
Khuôn khổ nhóm
Các đặc điểm bản thân
Các mối quan tâm theo kinh nghiệm
Các mối quan tâm có nội dung
Những điều không ưa thích theo kinh nghiệm
Các khả năng về trí não
Các khoản thưởng cao
ã          Nên lập nhóm từ 10-15 người cho một tua
ã          Trình độ học vấn cấp 3 và có công ăn việc làm
ã          Thu nhập hàng năm từ 35.000 đến 55.000 đô la
ã          Ðược chỉ dẫn tóm tắt đầy đủ trên suốt tuyến đường tới điểm du lịch
ã          Tham gia vào các loại hình liên quan tới đi bộ nhắn khoảng 1 giờ
ã          Ngồi nghỉ tại nơi thích hợp và trao đổi chi tiết
Hầu hết các du khách đều có mối quan tâm lớn về:
ã          Lý do thảm thực vật thiên nhiên phát triển rất chậm
ã          Mối quan hệ giữa cây cối và người bản xứ
ã          Sử dụng cây cỏ cho các mục đích y học
ã          Vội vã hay không có cách nào khác để có được kinh nghiệm về khu vực
ã          Trong những điều kiện thuận lợi, du khách mất đi sự say mê sau 20 phút
ã          trong những điều kiện không thuận lợi, du khách cần được giới thiệu tóm tắt trước và sau kinh nghiệm để giảm thiểu sự phơi bày
ã          Du khách Halong bay Vietnam vật lộn để hiểu lời diễn giải mà không có bản đồ
ã          Những diễn giải viên đặc biệt cho du khách có chuyên môn đặc biệt cao hay triển vọng của địa phương
Cách thức rõ ràng nhất để xây dựng và tinh lọc nội dung là thông qua một cơ cấu xác định những thông điệp quan trọng nhất để chuyển tải ở cấp độ cơ bản nhất. Một cấu trúc giới thiệu nét đặc trưng về một chủ đề, một nhóm những thông điệp hay một khái niệm tổng thể. Sử dụng một chủ đề đảm bảo là diễn giải thích hợp với cảnh quan và tương đối dễ dàng tạo ra vì nó phản ánh những đặc tính của cảnh quan được diễn giải (Hall và cộng sự, 1993). Chủ đề có thể là về rừng mưa nhiệt đới, địa chất, văn hóa bản địa. Tự bản thân chủ đề không quy định nội dung được trình bày: điều này được thực hiện bằng một nhóm các thông điệp để thêm vào định nghĩa và sự sáng tỏ, và trình bày một câu về ngữ nghĩa. Các khái niệm tạo thành những thông điệp cùng với nhau (như một câu có chủ đề) để tạo dựng một bộ khung làm cho du khách hiểu được nhiều hơn. các ví dụ về chủ đề diễn giải, khái niệm và thông điệp được nêu trong bảng 3.3.

Lập kế hoạch diễn giải - Halong bay Vietnam


Khi sự quan tâm của du khách đối với môi trường tăng lên vào giữa cho tới cuối những năm 1980, một bộ phận nhỏ thị trường trở nên say mê là hơn là ngắm những khu vực thiên nhiên  nó muốn hiểu biết hơn về những khu vực thiên nhiên. Ngược lại, một số nhà điều hành du lịch đã bắt đầu nâng cao vai trò của sự diễn giải, đóng góp cho sự tạo ra kinh nghiệm thị trường thích hợp như du lịch sinh thái. Các nhà điều hành du lịch sinh thái sử dụng sự diễn giải như là một sự thực hành thị trường thích hợp hay giá trị gia tăng, mà đến lượt chúng, tạo sự tiếp cận với những thị trường có hiệu suất cao hơn (Phòng Du lịch Khối Thịnh vượng chung, 1994). Một số nhà điều hành du lịch sinh thái và hầu hết các nhà quản lý các khu bảo tồn hiện nay như Halong bay Vietnam sử dụng sự diễn giải để đạt được một số các mục tiêu như để:
ã        Phân biệt sự khác nhau giữa sản phẩm du lịch của họ vớí các sản phẩm chính thống hơn;
ã        Thu hút những người khách thân thuộc có hiệu suất cao hơn;
ã        Làm giàu kinh nghiệm của du khách và tăng sự thoả mãn của khách hàng;
ã        Giúp đỡ du khách xây dựng nhận thức, đánh giá và hiểu biết đúng đắn hơn về khu vực đựơc tới thăm;
ã        Ðóng góp cho vị thế có tính nguyên tắc của công tác điều hành;
ã        Khuyến khích hành vi cẩn trọng của du khách để đảm bảo kinh nghiệm được bền vững;
ã        Tăng sự thỏa mãn về hướng dẫn;
ã        Ðược những nhà quản lý di sản đối xử thuận lợi hơn (Sharpe, 1982; OBrien, 1985; Beckmann, 1988, 1992; Saunders, 1992; Forestry Tasmania, 1994).
Thú vị là, cấp độ so sánh sự tập trung của mỗi tổ chức đặt ra đối với những mục tiêu này hiếm khi được thảo luận hay tranh cãi. 

Các nhà điều hành du lịch sinh thái đã sử dụng một số kỹ thuật diễn giải rất rõ ràng, đổi mới. Ðiều không may là, hiệu quả của những kỹ thuật này nói chung bị hạn chế do việc hoạch định kém (Trapp và cộng sự, 1991; Veverka, 1992; Hall và McArthur, 1993).Nếu không hoạch định đúng cách thì rốt cuộc hầu hết các chương trình diễn giải đều trở nên không hiệu quả và thừa thãi. Dễ thấy bằng chứng của công tác hoạch định kém. Ví dụ, các chương trình tua Halong bay Vietnam  không được kết nối một cách có chủ đề sẽ thành rời rạc, trong khi các lời chú giải không có mục đích sẽ không đặc biệt kích thích được ai cả. Công tác hoạch định gắn kết ba thành phần thiết yếu của sự diễn giải dựa vào du lịch sinh thái lại với nhau - đó là khán giả, thông điệp và kỹ xảo. Ba thành phần này xác định ba bước lập kế hoạch chủ chốt cần thiết để diễn giải thành công.

nguyên tắc tổ chức và cá nhân - Halong bay Vietnam


Tuy nhiên, sự diễn giải vẫn chỉ là cái vỏ ngoài của du lịch sinh thái. Giống như các thành phần khác của sự cân bằng du lịch sinh thái, sự diễn giải đã lùi lại một bước so với các thành phần môi trường như giảm thiểu tác động của du khách và tối đa hoá sự áp dụng phát triển bền vững một cách sinh thái. Chương này không đưa ra bình luận gì về giá trị của các sáng kiến này, chương có chú thích với một chút châm biếm về yêu cầu cuối cùng đối với các du khách phải nhận thức được một cách đầy đủ về môi trường để ủng hộ và được chuẩn bị để chi trả cho những sáng kiến này. Sự diễn giải chất với lượng cao củng cố điều này bằng cách diễn giải hoạt động du lịch sinh thái, những khách hàng, hành vi và các giá trị và sự cam kết của cả du khách lẫn người điều hành tua du lịch. Vì thế, sự diễn giải chất lượng cao là điều cơ bản để làm cho du lịch sinh thái Halong bay Vietnam phát triển bền vững.
Không có một định nghĩa đơn lẻ nào về sự diễn giải đã được hầu hết các nhà thực hành thông qua. Tuy vậy, định nghĩa nêu trong bảng 3.1 phản ánh tổng hợp hầu hết các yếu tố mà sự diễn giải đã đề cập tớí khi phát triển những kinh nghiệm diễn giải. Ðịnh nghĩa được trích dẫn rộng rãi là định nghĩa của Freeman Tilden (1977), nhưng các tổ chức thường sử dụng các định nghĩa khác nhau để phản ánh nển tảng giá trị tổ chức và văn hóa của họ. Ví dụ, một số nhà điều hành tua du lịch sử dụng sự diễn giải như là một sự vận dụng tăng thêm giá trị để thu hút những thị trường có hiệu suất cao hơn. Các tổ chức quản lý di sản sử dụng sự diễn giải nhấn mạnh các giá trị bảo tồn truyền thống và một nguyên tắc bảo tồn. Những nhà điều hành tua du lịch văn hóa nhấn mạnh vào sự nhạy cảm văn hóa và sự chính xác. Các nhà điều hành tua du lịch sinh thái chủ yếu cố gắng đặt bản thân họ vào giữa những triển vọng này  nhiều cách điều hành tua du lịch sinh thái học đòi theo kiểu diễn giả để:
Р        Tăng giá trị và nâng cao vị thế sản phẩm của họ;
Р        Thu hút các thị trường hiệu suất cao;
Р        Phản ánh các nguyên tắc tổ chức và cá nhân hay
Р        Khuyên tổ chức quản lý di sản Halong bay Vietnam  chịu trách nhiệm về tài sản mà họ điều hành sử dụng.

Ðịnh nghĩa

Nguồn gốc

Một hoạt đông giáo dục nhằm nêu bật nghĩa và các mối quan hệ thông qua việc sử dụng các vật thể nguyên dạng, bằng kinh nghiệm đầu tiên, và bằng phương tiện minh họa hơn là đơn thuần chỉ để truyển tải các thông tin thực tế
Quá trình truyền thông nhằm mục tiêu giúp đỡ con người tìm ra ý nghĩa của các sự vật, nơi chốn, con người và sự kiện...giúp đỡ con người thay đổi các nhận thức và thế giới của họ thông qua sự hiểu biết tốt hơn về thế giới và bản thân họ.
Quá trình kích thích và khuyến khích việc đánh giá di sản thiên nhiên và văn hóa của chúng ta và chuyển tải các ý tưởng và tập tục bảo tồn thiên nhiên.
Tạo ra kinh nghiệm hay tình huống trong đó các cá nhân được thách thức để suy nghĩ và có thể đưa ra những quyết định về các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Một phương tiện chuyển tải những ý kiến và cảm xúc giúp cho con người làm giàu vốn hiểu biết và sự đánh giá của họ về thế giới, và vai trò của họ trong đó.
Freeman Tilden (Tilden 1977)
Colonial Williamsburg, USA (MacFarlane, 1994)
Vườn Quốc gia Queensland và Công tác đời sống hoang dã (Davie, 1993).
Ban Vermont về Rừng, Công viên và Giải trí (MacFarlane, 1994).
Hội Diễn giải Úc (1995).